Nhang trầm hương

Published by:

Trầm hương khi đốt tỏa hương thơm tao nhã, nó được sử dụng như một hương liệu cho đến việc chế tạo nhang trầm, thành phần không thể thiếu được của các tôn giáo phương đông. Một khúc gỗ không quy cách, dài vài cm và nặng khoảng 10-200g, có thể được cắt thành những miếng nhỏ và đem đốt, thường là đốt dưới dạng nhang (Heuveling van Beek & Phillips, 1999). Trầm hương dạng bột và bụi không thể đốt trực tiếp qua hủ chứa, nhưng có thể được dùng làm nhang hay đồng tiền để đốt trong nhà, và thường được dùng nhiều với lý do tôn giáo như người theo đạo hồi (muslin), đạo phật (buddha) và Ấn Ðộ giáo (hindu).

Người Ðài Loan sử dụng trầm hương để làm nhang trầm, dùng cúng kiến trong các ngày lễ hội, để cầu an và may mắn (TRAFFIC East Asia-Taipei, TRAFFIC International 2 May 2000). Cả người Ấn Ðộ và Trung Quốc sử dụng trầm hương như thành phần hương liệu chính trong que nhang trong quá khứ, nhưng hiện nay que nhang không có chứa trầm hương, mặc dù những thương nhân Ấn Ðộ cho biết que nhang trầm hương cao cấp dùng để xuất khẩu thường chứa vài giọt tinh dầu trầm hương (Chakrabarty etal. 1994). Agarbattis là nhang hình nón, nguồn gốc ban đầu có chứa trầm hương nhưng hiện nay không dùng trầm hương do trầm hương quá đắc. Thay vào đó, bột có màu nâu hay kem còn lại sau khi chưng cất tinh dầu trầm hương (đôi khi có hay không còn sót oleoresin) được dùng là chất phụ gia hay thành phần cho các loại hương liệu do giá rẻ. Chất bả này có giá bán 5USD/kg.

Nhang ở Nhật Bản thì khác, với sản phẩm cao cấp được chế tạo với nguyên liệu tự nhiên bao gồm bột trầm hương kết hợp với các thành phần khác như sandalwood và benoin và quyện thành nhang. Trầm hương tinh khiết được đốt như nhang ở Nhật Bản. Người Nhật Bản cắt trầm hương thành miếng nhỏ rồi đốt (Heuveling van Beek & Phillips, 1999). Ở Nhật Bản, sự phục hưng trong nền nghệ thuật cổ Koh Doh, lễ hội nhang, phuc hồi lại trầm hương một cách lý thú (Katz. 1996).

trầm hươngỞ Malaysia, người hồi giáo đốt những mảnh nhỏ trầm hương để làm nhang trong suốt những ngày lễ đặc biệt, đặc biệt nhất là tháng ăn chay và cầu nguyện Ramadan (Chakrabarty etal. 1994).

Nhang trầm được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau ở Trung Ðông, đặc biệt trong những buổi cầu nguyện (Yaacob, 1999). Những mảnh trầm hương cũng được đốt trong phòng tắm và nhang cũng được dùng như một loại hương liệu. Ở các nơi tổ chức tiệc, người ta thường đặt những mảnh trầm hương bên trên lò lửa than, hương thơm tỏa ngát cả bữa tiệc.

Kỹ thuật trồng cây gió bầu

Published by:

images (2)

I- ÐẠI CƯƠNG:

* Dó Bầu Hương (Dó Trầm) là loại ưu việt trong nhóm Dó Bầu, trồng để lấy Trầm Hương. Ðó là nguồn Dược liệu và Hương liệu quan trọng, có giá trị kinh tế xuất khẩu cao, được ưa chuộng trên thị trường thế giới.

* Trong Ðông y, Công dụng của Trầm Hương là vị thuốc quý (vị cay, tính hơi ôn) , đi vào các kinh tỳ, vị, thận, có tác dụng nạp thận, bình can và tráng nguyên dương. Nó còn chữa các bệnh đau ngực, đau bụng, nôn mửa, hen suyển, bí tiểu tiện và bổ dạ dày.

* Hiện nay, Nhật Bản đang nghiên cứu dùng Trầm Hương để chữa một số bệnh nan y.

* Ngoài ra Trầm Hương còn dùng để chế tạo các loại nước hoa cao cấp và dầu gội.Giác trầm dùng làm nhang. Gỗ trầm làm đồ trang trí nội thất quý giá vv .

* Cây Dó Trầm còn góp phần cải thiện môi sinh nhờ thanh lọc không khí ô nhiễm, ức chế sự phát triển của các vi khuẩn và virus gây bệnh. Lá Dó cũng có tác dụng chữa nhiều bệnh, vì thế trồng cây Dó Trầm là ta có sẵn trong nhà một vị thuốc quý.

 

II – KỸ THUẬT TRỒNG CÂY DÓ BẦU HƯƠNG:

 

Việt Nam là nước được thiên nhiên ưu đãi, khí hậu rất thích hợp cho việc trồng Dó tạo Trầm.

Cây Dó Trầm sống được trên nhiều lọai đất : tốt nhất là đất đỏ bazan, trừ đất ngập úng , nhiễm phèn, nhiễm mặn hoặc đất trên nền đá vôi .

Trạng thái thực bì thích hợp với đất trang trại, rừng nghèo kiệt, rừng sau nương rẫy hoặc vườn hộ.

Cây giống Dó Bầu Hương của công ty Dó Bầu Hương được ươm từ hạt. Cây tiêu chuẩn 8-12 tháng tuổi, cao trên 40 cm, đường kính cổ rễ trên 0,35 cm và không bị sâu bệnh. Hạt lấy từ những cây mẹ >12 tuổi, được ươm trong bầu đất theo phương pháp truyền thống. Hạt giống mất khả năng nẩy mầm rất nhanh (1 tuần lễ ) nên khi lấy hạt là phải ươm ngay.

 

1- Thời điểm trồng cây: Tốt nhất vào đầu mùa mưa.

 

2- Phương thức trồng: Tùy thuộc vào loại đất, dạng thực bì.

+ Trồng độc canh :

– Nếu trồng trên đất trang trại, đất rừng sau nương rẫy thì theo qui cách cụm tam giác đều : cây cách cây1,2-1,5 m ; cụm cách cụm từ 2-4m. Mật độ 1.600-2.000cây/1ha.

– Nếu trồng trên các loại đất rừng nghèo kiệt : cây cách cây 2m, hàng cách hàng từ 10 -12,5 m. Mật độ trồng từ 400-500 cây/ha.

+ Trồng xen canh :

Rất thích hợp vì cây chịu bóng râm, phát triển nhanh khi sống chung với những cây khác. Vì thế trong việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng ta không phải đốn bỏ những cây đã có sẵn mà xen vào vườn tiêu, điều, cà phê, chè, sa nhân, các loại cây ăn trái hoặc cây ngắn ngày như thơm (dứa), cây họ đậu, bắp, dưa, ớt vv. Lấy hoa lợi có sẵn nuôi cây Dó (của để dành). Riêng cây cao su thì không nên trồng chung với cây Dó trầm vì nó phát triển nhanh và có tán lớn.

Nên trồng theo cụm tam giác đều, cây cách cây 1,2-1,5m, cụm cách cụm 2-3m, hàng cách hàng 2-4 m.

Lợi ích : Trồng theo cụm tam giác giảm thiểu chi phí khoan cấy tạo trầm sau này (bắc một giàn, khoan cả ba cây). Khi cây đã cấy chất xúc tác, do có nhiều vết thương nên gió mạnh dễ làm gãy cây. Ta có thể niềng một cụm ba cây : ngọn với ngọn – gốc với gốc vào nhau thành một khối để bảo vệ cho cây.

 

       SƠ ÐỒ TRỒNG CÂY DÓ TRAÀM:

 

 

3- Phương pháp trồng:

* Xử lý thực bì :

a / Ðối với các loại đất rừng nghèo kiệt :

Trước khi trồng cần xử lý thực bì theo băng chặt, chiều rộng của băng chặt bằng 1/3 – 1/2 chiều cao bình quân của rừng. Cần xử lý toàn bộ thực bì băng chặt, gốc chặt cao không quá 15 cm, băm nhỏ, xếp gọn, sau đó đào hố trồng trên băng chặt, mỗi băng một hàng cây.

 

b / Ðối với các loại đất rừng sau nương rẫy :

* Xử lý thực bì toàn diện, băm nhỏ, dọn sạch sau đó đào hố trồng theo hàng.

* Ðào hố: kích thước 40x40x40 cm. Trộn đều 1/2 đất + 1/2 với tro trấu cho xốp đất rồi đặt cây, lấp hố. Có thể không bón phân lót trước, đến khi cây bén rễ sẽ nhấp phân từ từ.

* Nếu muốn bón phân lót thì tốt nhất là dùng phân vi sinh hoặc phân chuồng (phân trâu, bò). Sử dụng phân chuồng đã oai (14% phân +1% super lân).

* Khi đào để lớp đất mặt sang một phía. Ðào hố phải hoàn thành trước khi trồng 1 tháng. Dùng lớp đất mặt trộn đều với phân để lấp hố. Hố lấp xong phải cao hơn mặt đất tự nhiên 2-3 cm. Bón phân, lấp hố, phải hoàn thành trước khi trồng 10-14 ngày.

* Ðây là loại cây rừng, không nên dùng phân nhiều. Ðộ đạm cao làm cây dễ bị bệnh và chết. Không nên dùng phân heo. Phân gà tốt nhưng nóng và chỉ bón khi cây > 2 tuổi.

 

c / Ðối với vườn hộ:

* Xử lý quanh gốc cây với đường kính 1-2 m cho cây trong vườn hộ không ảnh hưởng đến cây Dó Bầu.

 

4-Kỹ thuật trồng:

Trong quá trình vận chuyển, cây có thể bị động rễ. Khi nhận cây con nhà vườn nên để ở chỗ có bóng mát để theo dõi, chăm sóc một thời gian ( 1-2 tuần lễ) cho tốt trước khi trồng. Tập cho cây từ từ quen với nắng, gió. Không tưới cây vài ba ngày cho bầu khô, cứng mới đem trồng, sau trồng thì tưới cây. Lựa những cây phát triển mạnh trồng trước, những cây có vẻ còn yếu thì phải dưỡng thêm một thời gian. Nếu cây rụng lá thì để yên một khúm, dùng phân bón lá tưới phun sương (theo hướng dẫn trên chai phân) cho cây bén rễ và ra lá trở lại. Khi nào gốc cây chết hẳn, cạo vỏ gốc cây không còn thấy màu xanh mà chỉ thấy một màu vàng khô là cây thực sự chết hẳn mới bỏ đi. Chọn những ngày có mưa nhỏ liên tục, thời tiết râm mát, không có gió heo may để trồng. Cẩn thận, nhẹ tay, khéo không làm bể bầu đất vì bể bầu tỉ lệ cây chết sẽ cao. Theo kinh nghiệm đã qua, để giảm tối đa tỉ lệ cây chết chúng ta sẽ trồng cây gồm 2 giai đoạn :

– Giai đoạn 1: Dùng dao bén hoặc kéo sắc rạch vòng quanh phần nylon ở đáy bầu và bỏ đi, còn phần trên bầu đất vẫn giữ phần bọc ny lon (để giảm thiểu sự bể bầu con, đứt rễ cây). Dùng cuốc, bay khơi rộng lòng hố vừa đủ đặt bầu, chiều sâu cao hơn chiều cao của bầu từ 1-2 cm. Sau đó ñaët cây ngay ngắn, thân thẳng, bầu tựa vào một thành hố, lấp đất và lèn chặt (còn giữ lại phần bọc ny lọn bao quanh bầu con ). Vun đất quanh gốc cây cao hơn mặt đất tự nhiên 4-5 cm. Không trồng ở giữa hố để tránh bị sụp gốc.

– Giai đoạn 2 : để một thời gian khoảng một tháng cho cây quen từ từ với môi trường đất mới và khi rễ cây ổn định, ta mới bới nhẹ gốc cây, dùng dao rạch thẳng một đường xuống vào bọc ny lon chứa bầu đất con trước đây còn chừa lại và lấy bỏ đi bao ny lon để giải phóng hoàn toàn bầu đất cho rễ cây được tự do phát triển .

 

* NHỮNG ÐIỀU CẦN LƯU Ý KHI TRỒNG CÂY DÓ BẦU HƯƠNG:

 

– Khi mới trồng nên cột cây vào cọc để tránh lay động rễ khi có gió mạnh.

– Cây thích bóng râm. Nếu trồng một mình nó thì có thể che mát cây con bằng lá dừa. Chặt tàu lá dừa làm 2, làm ba rồi chống che hướng nắng chiều vào những ngày nắng gắt trong năm đầu .

– Nguyên nhân làm cây chết thường nhất là do bể bầu, đứt rễ hoặc có tình trạng ứ nước, tăng độ ẩm trong bầu đất. Do đó nên tưới phun sương, chớ cho ướt đẫm bầu hay gốc cây thường xuyên.

– Khi cây bị vàng lá, kiểm tra độ ẩm của đất. Nếu độ ẩm đất tăng thì cây dễ bị nhiễm nấm (dùng Anvil hoặc các thuốc chống nấm ở rễ theo hướng dẫn trên chai thuốc) .

Cây Dó có sức sống mạnh, nếu cây bị động rễ, rụng lá, trơ cành thì chưa hẳn là cây đã chết, ta vẫn nên chăm sóc, cây sẽ ra nhánh mới. Chỉ sau 1 tháng chăm sóc mà cây không ra lá lại thì mới coi như cây thực sự chết.

– Vào mùa mưa nên vun gốc cây hơi cao hơn mặt đất, khai thông những vũng nước đọng gần gốc cây, đào mương, hào thoát nước để tránh đọng nước ở gốc làm tăng độ ẩm của đất, ngập úng rễ, cây dễ bị chết.

– Mùa nắng nóng, vài ngày nên tưới đủ nước cho cây phát triển nhanh . Không tưới xói vào gốc cây làm lồi rễ, cây sẽ bị tổn hại.

– Không nên trồng cây vào đầu mùa nắng vì tình trạng nắng gắt, thiếu nước có thể làm cây không sống nổi.

 

III- CHĂM SÓC CÂY TRỒNG:

 

1- Chế độ chăm sóc:

Cây mới trồng cần được chăm sóc theo chế độ sau đây:

– Năm thứ nhất: Chăm sóc từ 1-2 lần.

– Năm thứ 2 đến năm thứ 3 : Chăm sóc mỗi năm 2 lần .

– Từ năm thứ 4 đến khi rừng khép tán : Mỗi năm 1 lần.

2- Kỹ thuật chăm sóc :

– Trồng giặm lại những cây con đã bị chết vào lần chăm sóc đầu tiên của năm đầu hoặc năm sau. Chọn cây sinh trưởng tốt, kích thước tương đương cây đã trồng. Luống phát dây leo, cây bụi và cỏ dại ở vườn trồng.

– Xới xáo quanh gốc cây thành hình vòng tròn, đường kính 0,8 đến 1m

cho những lần chăm sóc từ năm thứ nhất đến năm thứ 3.

-Bón thúc cho cây 50 g phân NPK (thành phần 2 đạm, 1 lân, 1 kali)

trong phạm vi vòng tròn đã xới xáo. Mỗi năm bón 1 lần thực hiện trong 3 năm đầu.

– Ðối với phương thức trồng theo băng, rạch phải tỉa cành, chặt cây ở băng chừa để điều chỉnh độ tàn che để năm thứ 4 cây Dó trầm được phơi ra ánh sáng hoàn toàn.

Cẩn thận không dùng thuốc diệt cỏ, diệt côn trùng hoặc các hóa chất khác khi đã xới xáo đất vì rễ cây bị đứt có thể ngấm hóa chất và làm chết cây.

– Nếu dùng thuốc diệt cỏ thì phun thuốc trên cỏ, xa gốc cây.

 

IV- BẢO VỆ RỪNG DÓ TRẦM:

  1. Phòng trừ sâu bệnh:

– Sâu ăn lá thường xuất hiện phá hoại từ tháng 4 đến tháng 8 hàng năm. Biện pháp diệt trừ là dùng dung dịch Trebon liều lượng 1,5-2 ml thuốc trong 1 lít nước rồi phun cho cây hoặc nuôi kiến vàng trên rừng Dó trầm.

– Theo kinh nghiệm dân gian có thể trừ sâu ăn lá Dó bằng cách dùng Long não treo ở cành cây hoặc đâm nát trộn với dầu dừa và phun trên lá.

 

  1. Phòng chống cháy rừng:

Triệt để phòng chống cháy rừng. Ở những nơi dễ gây ra hỏa hoạn phải có đường ranh cản lửa. Cấm đun nấu, đốt ong ở rừng Dó trầm. Không được để người và súc vật vào phá hoại rừng.

 

V- KẾT LUẬN:

 

Tóm lại, cây Dó Bầu Hương dễ trồng, dễ sống. Nó là một lọai cây rừng nên không cần bón nhiều phân. Cách chăm sóc chỉ bằng 1/2 đến 1/3 cây ăn trái . Vào mùa nắng trong 2-3 năm đầu nên tưới cho cây sống tốt. Tình trạng khô hạn quá mức hoặc ngập úng rễ đều làm cây con có thể chết. Cần phòng chống cháy rừng. Với cách trồng xen canh thì không tốn nhiều công lắm (một công đôi việc), lại thu về nguồn lợi lớn về sau.

 

Trồng cây Dó Bầu Hương để tạo trầm là bước đột phá mới trong lãnh vực cây trồng, là một hướng đi tuyệt vời nhất hiện nay.

 

Lịch sử cây trầm hương ở Việt Nam và Châu Á

Published by:

Lịch sử của cây Trầm hương được biết đến qua Trầm hương, một sản phẩm quý từ nhiều thế kỷ bởi các nền văn minh Châu Á, Ai Cập và Trung Ðông. Trầm hương là một loại vật liệu làm nhang có nguồn gốc từ Ðông Nam Á và Ấn Ðộ. Trầm hương là loại gỗ quý nhất được xếp hạng trong những nền văn minh cổ đại.

Qua sự kiện có nhiều sản phẩm trên thị trường có cùng những hữu ích giống nhau, nên cần phải làm rõ giữa Trầm hương và cây Trầm hương.

Cây Trầm hương là loài cây cho trầm từ những thời gian ban đầu. Trữ lượng Trầm hương có giới hạn và có nhiều loài Trầm hương mới xuất hiện trong lịch sử phát triển. Nhiều sản phẩm được làm ra từ Trầm hương nên cần phải xác định rõ nguồn gốc dòng Trầm hương chiết xuất, nhưng điều này không dễ dàng.

Xuyên suốt lịch sử, chỉ có những vị Vua chúa có quyền lực và những người giàu có mới có khả năng sử dụng Trầm hương và cho đến hiện nay sản phẩm từ Trầm hương đã được sử dụng rộng rãi. Vì sản phẩm từ Trầm hương rất đắt, cho nên người ta chỉ sử dụng để làm quà và thể hiện người thụ hưởng là những người có quyền lực và giàu có.

 TRẦM HƯƠNG Ở HÀN QUỐC:

           Có nhiều lý do tại sao người Hàn Quốc lại không biết đến Trầm hương. Thứ nhất, có rất ít Trầm hương được đưa đến từ Nhật Bản và Trung Quốc có nguồn gốc từ Ðông Nam Á. Thứ hai, giá trên thị trường rất đắt và chỉ có vua chúa mới dùng. Ngay cả những người giàu có cũng không được mua sử dụng, ngoại trừ được Vua cho phép.

(1) Samuk Sagi (trong “Lịch sử 3 vị vua”):

Silla King Hyun-Duk (919 sau công nguyên): Vua Silla King Hyun-Duk (919 sau công nguyên) là vị vua đầu tiên nhập rất nhiều Trầm hương về sử dụng và nghiêm cấm mọi người dùng, ngay cả với tầng lớp thượng lưu giàu có.

(2) Koryo Sa (trong “Lịch sử triều đại Koryo”):

* Dùng làm thuốc: Vua Kyryo King Mun Jeng sử dụng Trầm hương để làm thuốc. Vị vua này bị bệnh phong thấp do tuổi già và ông ta đã được nhiều lương y ở Kyryo chữa trị. Tuy nhiên, sức khỏe ngày càng yếu đi do không dùng đúng thuốc chữa trị. Cho đến một ngày đi an nghỉ, Vua hỏi Hoàng đế Trung Quốc là Song về các loại dược liệu. Hoàng đế Song bèn gửi một lương y của ông ta đến, mang theo hàng trăm thứ dược liệu khác nhau để chữa 88 loại bệnh khác nhau. Trong hỗn hợp thuốc, Trầm hương là vị thuốc đứng đầu danh sách và đã trị khỏi cho vị Vua (quyển 9).

* Dùng làm quà biếu: Trầm hương được dùng làm quà biếu khi vua Sing và Jin đang trải qua hàng trăm năm trong chinh chiến. Vua Song gửi đến Kyryo các món quà đề nghị ngừng chiến tranh, Vua ra lệnh cho sứ thần Delong Hsu gửi Trầm hương được chứa trong một hộp bằng bạc và một hộp bằng vàng.

* Ðiêu khắc: Vua I-Wu ra lệnh cho những nhà điêu khắc dùng Trầm hương để khắc tượng Avalokitesvara Bodhisattva (Thần Merey) (quyển 17).

 

(3) Choson Sirok (trong “Lịch sử triều đại Choson”):

* Dược liệu: Vua King Sejong (1431 sau công nguyên) bàn với cận thần về sự quan trọng trong việc giữ kín nguồn cung cấp dược liệu. Vua nói rằng hương Cacrin và Cinnabar là những loại dược liệu hàng đầu, nhưng 2 loại này chỉ có ở Trung Quốc, nhưng Trầm hương cũng lại rất khó tìm hơn ở Trung Quốc. Trong lịch sử, những thương nhân Nhật Bản thường đến để bán Trầm hương. Nhưng sau đó họ ngưng bán do giá quá thấp. Trầm hương không có nguồn gốc ở Nhật Bản, nhưng họ mua từ một nơi rất xa. Sau đó, vị Vua đã mua Trầm hương mà không cần quan tâm đến giá cả (Sejong 14, quyển 3, trang 421).

* Món hàng hài lòng của Vua: Năm 1493 (sau công nguyên), nhiều quan cận thần báo với nhà vua là các thương nhân Nhật Bản thu lợi rất nhiều qua việc buôn bán Trầm hương cho Hàn Quốc. Các vị cận thần đề nghị nhà Vua cấm buôn bán với người Nhật Bản. Vua King Seung-Jong trả lời rằng: Ngoại trừ Trầm hương và Dryobalanop, còn tất cả cấm buôn bán với người Nhật Bản. Với 2 loại này, có thể mua mà không cần quan tâm đến giá cả (Seung-Jong 25, quyển 12, trang 546).

* Món hàng biểu hiện sự tôn kính: Vào năm 1804 (sau công nguyên) trong điện Insan, có người dâng cho Vua 5 chiếc vòng quý báu. Nhưng Vua không nhận, chỉ khi người đó dâng Trầm hương thì Vua nhận. Hơn nữa, các loại hương liệu cũng bị thay thế bởi Trầm hương (Soon-Jo, quyển 47, trang 505).

 

* Chiếc vòng đeo tay của Hoàng thái tử: Vào năm 1541 (sau công nguyên), Hoàng thái tử Joong-Jong bị mất chiếc vòng đeo tay bằng Trầm hương. Nhưng điều này không làm cho Hoàng thái tử lo lắng vì ông ta biết rằng người ăn cắp sẽ đem chào bán cho hoàng gia và sẽ trở về lại với ông ta vì nó vô giá. Ðúng như vậy, chiếc vòng sau đó lại trở về với Hoàng thái tử (Joong-Jong 36, quyển 18, trang 442).

* Sự quý hiếm của Trầm hương: Vào 1524 (sau công nguyên), Thừa tướng Jen Kim bị bệnh nặng và mất trí nhiều lần trong tuần. Thì có một người đến cho một toa thuốc gọi là “Trầm hương hạ Qi” được yêu cầu để cứu Thừa tướng. Tuy nhiên, ông ta nói rằng không thể tìm Trầm hương quý hiếm ở chợ. Sau khi nghe tin này, vua Joong-Jong đặt mua Trầm hương để chữa trị cho Thừa tướng (Joong-Jong 18, quyển 16, trang 193).

* Tượng phật Trầm hương ngưỡng mộ của Vua: Vào năm 1458 (sau công nguyên), vua Se-Jo gửi tượng Phật Buddhist Sutra làm bằng thủ công đến Hoàng Ðế Nhật Bản. Trong lá thư gửi Hoàng Ðế, Vua viết gửi một bức tượng Phật Trầm hương để tỏ lòng ngưỡng mộ (Sejo 3, quyển 7, trang 200).

* Vẻ đẹp và dinh thự: Vào 1615 (sau công nguyên), vẻ đẹp được mô tả như vẻ đẹp của Trầm hương. Cũng vậy, dinh thự của Vua được đặt tên sau chữ Trầm hương (Kwang-hea, quyển 32, trang 402/466).

* Màu sắc của Trầm hương: Ở Hàn Quốc và Trung Quốc, màu của Trầm hương (xanh lá cây đậm) được sử dụng rộng rãi trên bộ đồ của Vua và Hoàng hậu, và cũng được sử dụng để sơn dinh thự của Vua (nhiều nơi trong Silok)

* Trang trí: Trầm hương được sử dụng như là vật quý giá mà nhà Vua ban tặng cho cận thần như dây đai, quần áo, hộp và dụng cụ âm nhạc.

 TRẦM HƯƠNG Ở TRUNG QUỐC

* Vào thời kỳ Trung Quốc cổ đại, những người giàu có chọn Trầm hương để làm quan tài. Theo Tam Quốc Diễn Nghĩa, Vua Gwan Yu (thời kỳ hưng thịnh nhất bấy giờ) bị truất phế do tranh quyền và được Tào Tháo kế vị. Theo thỉnh cầu của Guan Yu, Tào Tháo làm áo quan bằng gỗ Trầm hương để tẩn liệm Guan Yu (chương 77).

 

* Có một chương khác, để có thể truyền sự thành kính đến cái chết của Trương Phi, Tôn Quyền đặt đầu của Trương Phi (cũng bị chặt đầu) trong áo quan làm bằng gỗ Trầm hương và gửi đến Lưu Bị (chương 83).

* Trong Phật giáo, chuỗi hạt quý giá của những cao tăng cũng làm bằng gỗ Trầm hương và chuỗi có 108 hạt. Có một câu chuyện kể về giá trị tinh thần nơi vòng đeo cổ của các cao tăng. Cao tăng đeo vòng và đi khắp nơi trong nước, bất cứ khi nào thấy ai bị bệnh, sẽ lấy đi một hạt và dùng để trị bệnh. Sau khi nghiền và cho uống thì bệnh sẽ khỏi. Niềm ước muốn của các cao tăng là muốn sử dụng hết các hạt trước khi mất.

  1. TRẦM HƯƠNG TRONG KINH THÁNH

         Có 5 nơi trong Kinh Thánh có nhắc đến Trầm hương và được gọi là agarwood, ngoài ra cũng dùng bằng từ aloewood. Aloewood được sử dụng bởi các vị Thánh như tên của cây Trầm hương trong Kinh Thánh (số 24:6). Trầm hương được người Ai Cập sử dụng để ướp xác chết. Nicodemus đã dùng bột Trầm hương để ướp xác Ðức Chúa Christ (John 19:39); Trầm hương còn được sử dụng như một loại hương liệu quý giá được nhắc đến trong Kinh Thánh.

* John 19:39: Và cũng là Nicodemus, đến với Christ trước nhất và mang theo chất bột khoảng vài chục ký là hỗn hợp của Trầm hương và nhựa thơm.

Numbers 24:6: Thung lũng thì trải dài, như các khu vườn bên cạnh bờ sông, cũng như cây Trầm hương được Thánh Lord trồng và cũng như cây cedar bên cạnh hồ nước.

* Proverbs 7:17: Tôi đã được tẩm hương bằng Trầm hương, quế và nhựa thơm.

* Psalms 45:8: Bên ngoài các lâu đài, họ ngửi mùi hương Trầm, keo và nhựa thơm làm cho họ thấy hạnh phúc.

* Soomon 4:14: Hương trầm là sự kết hợp giữa Trầm hương và nhựa thơm là hương thơm bậc nhất.

 images (2)

  1. LỊCH SỬ TRẦM HƯƠNG Ở VIỆT NAM:

         

I- TRẦM HƯƠNG NGUYÊN SINH TRONG RỪNG TỰ NHIÊN:

 

* Cùng với lịch sử phát triển của nước ta, Trầm Hương được người Việt Nam biết đến hơn hai ngàn năm.

 

* Cây Trầm hương thường mọc rải rác trong các vùng rừng dọc miền Trung và các tỉnh phía Nam, xuống tận An Giang, Kiên Giang và đảo Phú Quốc, có nơi có mật độ cao, đạt đến 120-150 cây/ha như Ba Rền (Quảng Bình), Hương Khê (Hà Tĩnh). Phân bố tập trung nhất và nhiều nhất là ở các tỉnh Quảng Ninh, Hà Bắc, Hoà Bình, Tuyên Quang, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Nam, Gia Lai, Kon Tum, Bình Ðịnh, Phú Yên và Kiên Giang (đảo Phú Quốc và Hà Tiên).

 

* Trích bài “Bảo tàng Trầm hương, bao giờ” của phóng viên HUỲNH VĂN MỸ gởi đăng trên Tuổi Trẻ Chủ Nhật:

 

NHỮNG NẺO ÐƯỜNG TRẦM HƯƠNG

 

Lịch sử buôn bán Trầm hương giữa những người khai thác – buôn bán Trầm hương của nước ta với các thương nhân nước ngoài quả là những trang vàng, nhắc lại là cả một tiếc nuối cho một thời vang bóng. Theo một số tài liệu, người Nhật cũng như người Cao Ly ( Triều Tiên ) nhập khẩu Trầm hương của ta từ khoảng hai ngàn năm trước đây, còn người Trung Quốc thì sớm hơn nhiều. Cũng theo một số cổ thư, Trầm hương của ta cũng theo Con đường tơ lụa trên biển để sang các nước vùng Trung Ðông vốn là những nước có nhu cầu tiêu thụ Trầm hương khá sớm và khá mạnh. Ngay từ thời xa xưa, Trầm hương được coi là vật sở hữu của Vua Chúa và quan lại cao cấp bởi đây là một phương dược và là vật cúng dường vô cùng quý giá. Nhưng chỉ đến khi dược liệu và hương liệu thượng đẳng này trở nên là nhu cầu của nhiều người, Trầm hương mới trở nên là loại hàng hóa lưu thông rộng rãi trên các thị trường đã nói .

 

Ðể qua một bên những nẻo đi của Trầm hương xứ ta trên những tư liệu xa xưa ấy, có thể thấy lâm sản số một này đã được khai thác – buôn bán như thế nào ở thời khoảng các đây gần hai phần thế kỷ qua những lời kể lại của chính những người săn trầm còn sống ở xứ Quảng – một vùng Trầm hương giàu có được biết đến muộn nhất ở nước ta. Chưa bị hạn chế hay cấm đoán bởi các cơ quan chức năng, việc khai thác cũng như buôn bán Trầm hương trong thời khoảng này vẫn được tư do. Ở miền Trung- vùng Trầm hương trọng điểm của nước ta- khi Hội An không còn là thương cảng, chợ Ðông Ba ở Huế chính là chợ đầu mối Trầm hương thịnh hành nhất lúc bấy giờ. Các phu trầm-những người khai thác Trầm hương – cho vùng thị trường này săn tìm trầm từ các vùng rừng Quảng Trị, Thừa Thiên, Huế, Quảng Nam. Trầm hương lúc bấy giờ còn rất phong phú nên thị trường chỉ ăn các loại trầm hương thượng đẳng : loại một, loại hai, và loại siêu đẳng là kỳ nam- những hàng loại mà hiện nay còn lại rất ít, giá một kg nằm ở mức từ năm trăm triệu đến tám trăm triệu ( VND) -theo báo giá mới đây của Chim-Hyang Corporation- Công ty Trầm Hương ( Hàn Quốc ) .

Cuộc tổng tảo thanh Trầm hương ở nước ta diễn ra ồ ạt chỉ không đầy hai thập kỷ- từ những năm 80 đến giữa những năm 90 của thế kỷ trước . Giữa bối cảnh cuộc sống kinh tế của người dân còn lắm khó khăn sau ngày hòa bình, suốt thời gian trên, hàng ngàn người đã đổ xô lên rừng tìm trầm vừa như một phướng cách mưu sinh vừa cho mong ước đổi đời. Không chỉ tìm trầm từ những thân Dó rục nằm vương vải trên mặt rừng như thời trước, ở thời kỳ này người săn trầm đốn hạ bất kể cây Dó nào bắt gặp được để bổ ra tìm kiếm Trầm hương. Nhu cầu Trầm hương từ bên ngoài tăng cao sau nhiều thập kỷ Trầm hương nước ta bị ách tắc do chiến tranh, người ta thu mua cả đến trầm các loại 4-5 và cả đến loại 6- loại trước đây chỉ bán làm giác xông (đốt ) với giá rẻ mạt. Với qui mô, cường độ và phương thức khai thác như thế, chỉ sau hơn mười lăm năm những vùng Dó được hình thành sau hàng trăm năm đã bị xóa khỏi mặt rừng …

 

 

Đặc chủng Cây dó Bầu

Published by:

Ðây là một khám phá của chúng tôi qua kinh nghiệm thực tế. Loại này có khả năng tụ Trầm chất lượng cao.Dó Bầu Hương là một chọn lựa sáng suốt nhất khi nhân rộng mô hình trồng cây Dó vì những tính ưu việt của chúng:

(1) Tụ trầm chất lượng cao hơn các giống Dó Bầu khác, do đó đem lại một nguồn lợi nhuận cao cho người đầu tư.

– Dó Bầu Hương sẵn chứa một nguồn tinh dầu với hương thơm đặc biệt quyến rũ các loại côn trùng, vi sinh, vi nấm. Chúng thích cộng sinh và phát triển trong thân cây, thuận lợi cho việc tăng tiết một số chất cần thiết để kích thích sự tụ Trầm.

– Dó Bầu Hương có thớ gỗ mềm hơn các loại Dó Bầu khác, giúp các côn trùng dễ đục khoét, các vi sinh vật khác dễ tạo vết thương nơi thân cây, mộc tố dễ bị thoái biến khi tinh dầu Trầm tích tụ. Ðó yếu tố thuận lợi cho việc kết Trầm chất lượng cao.

(2) Phát triển nhanh khi di thực vào vườn hộ vì thích hợp với khí hậu, thổ nhưỡng Việt Nam, nhất là vùng cao nguyên và đất đỏ bazan.

(3) Bảo vệ tốt sức khỏe con người: nhờ tinh dầu có chứa chất định hương và nguồn dược liệu quan trọng.

(4) Có thể tận dụng tất cả các thành phần của cây từ cành, lá, gốc, rễ, ngọn để chế biến nhang trầm, dược liệu và các nhu yếu phẩm khác như trà hương (bổ thần kinh, sức khỏe), kẹo ngậm sát trùng, dầu gội, xà bông sát khuẩn, sữa tắm, kem đánh răng, thuốc hút v.v.

Như vậy nếu vùng nguyên liệu cây Dó rộng lớn, chỉ sau vài ba năm là có thể thu mua lá Dó (cho người dân nghèo có thu nhập sớm) để chế biến các nhu yếu phẩm trên.

 

Công dụng của Trầm Hương và Kỳ Nam

Published by:

trầm hương

            Trầm hương và Kỳ nam của ta rất có giá trị trên thị trường quốc tế, nhất là đối với Trung Quốc, Ðài Loan, Hồng Kông, Nhật Bản. Ðó là những hương liệu quý giá trong việc điều chế các loại nước hoa hảo hạng như? Santal, Nuit d Orient., một số xà phòng tắm và nhất là nhang trầm.

Sở dĩ Trầm và Kỳ nam có giá trị kinh tế cao là vì có công dụng chữa bệnh rất tốt trong Ðông y:

– Trừ sơn lam chướng khí: người ta thường xông trầm trong nhà để trừ khí độc và thường mang Kỳ nam trong người để ngừa sơn lam chướng khí. Ở một vài vùng, nhất là vùng Phú Khánh, người ta thường bọc Kỳ nam trong túi vải thưa để đeo ở cổ xem như “bùa hộ mệnh”. Trẻ em dưới 1 tuổi đeo 2 chỉ, 1 đến 5 tuổi đeo 3 chỉ, người lớn đeo 5 chỉ.

– Dùng làm thuốc giải nhiệt trừ sốt rét: ở Campuchia, theo các bác sĩ Menaut và Phân Douk, người ta thường dùng Kỳ nam, Trầm và ngà voi mài với nước lạnh để uống. Ngày 2-3 lần, mỗi lần uống từ 3 phân tới 1 chỉ.

            Thuốc trừ đau bụng: theo bác sĩ Sallet ghi nhận thì thuốc Nam có toa thuốc trị đau bụng rất hay gồm: Trầm hương 2 chỉ, sắc cùng đậu khấu, hạt cau, vỏ cây Mộc lan, Sa nhơn, Can khương. trong 2 chén rưỡi nước còn lại 9 phân chia uống thành 2 lần trong ngày sẽ làm cho bụng hết quặn đau.

– Chữa bệnh đường tiểu tiện : người ta thường mang Trầm kỳ ở vùng hội âm để chữa bệnh đường tiểu tiện.

– Theo Ðông y, Kỳ nam dùng để trị các chứng độc thủy do phong thổ gây nên, làm tiêu chứng chướng mãn, no hơi, đau bụng, ói mửa, hen suyễn thở gấp, hạ được nghịch khí, thông chứng bế do khí hư gây nên. Mài từ 3 phân đến 1 chỉ, tuỳ theo tuổi lớn hay nhỏ hòa với nước lạnh hoặc bỏ vào nước đun sôi mà uống.

 Chống chỉ định:

          trầm hương

            +Trầm kỳ là thuốc truỵ thai, nên đàn bà có thai không nên uống hoặc mang trong mình, có thể làm sảy thai.

+Những người suy dược và biếng ăn,suy gan. không nên dùng trầm kỳ với những loại thuốc có tính chất thuộc hành hoá tính theo âm dương ngũ hành.

           Công dụng khác

                       Sự yêu thích của con người vào trầm hương qua việc sử dụng màu sắc ( màu xanh lá cây đậm) của trầm hương để trang điểm dinh thự của vua chúa ở Trung Quốc và Hàn Quốc, và nhiều dinh thự cũng được sơn màu xanh lá cây đậm. Quyển sách “Chen-Xiang Dance” được phát triển để đánh dấu sự yêu thích trầm hương của con người.

Vỏ cây trầm hương được sử dụng thay giấy để viết lên những tài liệu quan trọng ở An nam (Việt Nam) và Trung Quốc; gỗ trầm hương còn được dùng làm giấy để viết kinh thánh (Chakrabarty etal. 1994).

Ở Ðài Loan, trầm hương là một trong những thành phần của rượuChu-yeh Ching Vo Pa Ky (TRAFFIC East Asia-Taipei, TRAFFIC International May 1999). Bột trầm hương được phun lên quần áo và da để phòng chống bọ chét và rận (Heuveling van Beek & Phillips, 1999).Sahih Muslim dùng trầm hương với mục đích phòng trừ bệnh nấm.

Đặt tính hình thái và sinh học của cây gió bầu

Published by:

cây gió bầu

Đặt tính hình thái

Cây Dó Bầu sống lâu năm, thuộc loại thân gỗ, cao 30-40m, vỏ xám, có xơ.

Lá mọc so le, thuôn hay bầu dục ngọn giáo, nhọn ở gốc, thon hẹp ở đầu, dài 8 – 10 cm, rộng 3,5 – 5,5 cm, có mép phồng lên thành vòng, mặt trên màu lục, sáng bóng, nhẵn, mặt dưới nhạt hơn có lông mềm. Hoa thành chùm hay thành tán, nách lá có lông.

Quả khô, loại quả nang, hình quả lê có lông lún phún, dài 4cm, rộng 3cm, dày 2cm. Hạt chỉ có 1 phần chính ở trên dạng nón và phần kéo dài ở dưới, vỏ ngoài hoá gỗ, bên trong mềm. Cây thường ra hoa kết quả từ tháng 3 đến tháng 6.

cây gió bầu giốngĐặt tính sinh học

Gỗ cây Dó Bầu có khả năng hình thành một loại sản phẩm đặc biệt gọi là Trầm Hương, do cây bị bệnh hoặc bởi tác động bên ngoài. Căn cứ vào sự tụ nhựa nhiều hay ít để tạo Trầm mà có những sản phẩm khác nhau: Tóc, Trầm Hương hay Kỳ Nam.

Tóc: Do sự biến đổi một phần chất gỗ, hình thành những đường đen như sợi tóc (lượng tinh dầu ít, thường dùng làm nhang đốt).

Trầm Hương: Do sự phân hóa không trọn vẹn của các phần tử gỗ, ngấm tinh dầu Trầm nhiều hơn Tóc, có màu nâu, hay sọc đen. Loại càng tốt thì ít nổi trong nước (trầm = chìm).

Kỳ Nam: tốt nhất, do sự biến đổi hoàn toàn của các phần tử gỗ, thấm nhiều tinh dầu Trầm, có màu nâu đậm, đen, xanh, vàng hay trắng. Kỳ Nam nặng, chìm trong nước, có vị đắng, thường hình thành ở phần lõi của cây trầm.

 

Định danh Cây Gió bầu và phân loại

Published by:

Trên thế giới có khoảng 15 loại Dó Bầu trải rộng từ dãy Hymalaya đến Châu Ðại Dương.

+Tên khoa học: Loại Dó Bầu được các nhà khoa học nghiên cứu thấy có khả năng tụ trầm cao: Aquilaria crassna Pierre ex Lecomtehoặc Aquilaria agallocha Roxb.

– Họ: Thymeleaceae.

– Bộ: Thyméales.

– Lớp: Song-tử-diệp

– Ngành: Hiển hoa (bí tử)

Trên thế giới, có khoảng 25 loại Dó Bầu chỉ mọc rải rác ở các nước Ðông Dương.

cây gió bầuPhân loại cây gió bầu

Ở Việt Nam hiện còn nhiều loại Dó mọc hoang còn sót lại hoặc được nhân trồng.

Riêng ở Quảng Nam, Dó Bầu, theo kinh nghiệm của chúng tôi, gồm có:

+ Dó Bầu Hương, còn gọi là cây Dó Xót, Dó Bả Mía hay cây Hàn, có khả năng kết tụ trầm chất lượng cao trong thiên nhiên.

+ Dó Bầu Trắng, Dó Bầu Ðen, Dó Bầu Lưỡi trâu có khả năng tụ trầm thấp hơn (dùng làm nhang).

Ở Phú Quốc, Hương Khê, Hà Tĩnh cũng có nhiều chủng loại Dó nhưng chưa được khảo sát và thử nghiệm .

– Chú ý : Những cây không thuộc nhóm Dó Bầu như Dó Me, Dó Dây, Dó Niệt, Dó Nghệ, Dó Hồ, Dó Ðịa, Dó Ngói, ít có khả năng tụ kết Trầm, chỉ dùng làm giấy hoặc chất giả trầm. Một số cây khác có tinh dầu thơm như cây Giá (Excercaria agallocha L.), cây Linostona decandrum, cây Ðàn Hương, cây Sổi (Sapium sebiferum), cây Xương Rồng Bà (Euphoribia antiquorum) vv. chỉ dùng làm chất giả Trầm.